Bài viết này được dịch từ bản gốc tiếng Nhật. Khi hai bản có điểm khác nhau, bản tiếng Nhật là bản chuẩn. Đọc bản gốc tiếng Nhật(日本語版を読む)
Về nguyên tắc, văn phòng cho thuê hay văn phòng dùng chung không được công nhận là văn phòng. Vì trụ sở kinh doanh được yêu cầu phải chiếm một khu vực riêng, có người và trang thiết bị, và hoạt động kinh doanh được tiến hành liên tục. Về nguyên tắc, hồ sơ chỉ được nộp sau khi thành lập pháp nhân, và vốn điều lệ hoặc tổng số vốn góp phải từ 30 triệu yên (3,000万円) trở lên.
Một người đang điều hành công ty ở nước ngoài, khi chuẩn bị thành lập pháp nhân Nhật Bản tại Tokyo, đã hỏi gộp chung về thứ tự nộp hồ sơ, văn phòng, số vốn góp và thời gian.
Vì tại thời điểm nộp hồ sơ, cần thể hiện cụ thể thực thể của pháp nhân và trụ sở kinh doanh.
Khi nộp hồ sơ xin 在留資格「経営・管理」 (Business Manager) theo hình thức thành lập pháp nhân và tiến hành kinh doanh tại Nhật Bản, cần phải thể hiện cụ thể thực thể của pháp nhân và trụ sở kinh doanh ngay tại thời điểm nộp hồ sơ.
Ở giai đoạn "sắp tới sẽ thành lập" hay "sắp tới sẽ thuê văn phòng", phía xét duyệt không thể xác nhận được thực thể. Vì vậy, quy trình là phải hoàn tất việc thành lập pháp nhân và đảm bảo trụ sở kinh doanh trước, rồi mới nộp hồ sơ.
Vì được yêu cầu phải chiếm một khu vực riêng, có người và trang thiết bị, và hoạt động kinh doanh được tiến hành liên tục.
Theo hướng dẫn của 出入国在留管理庁 (Immigration Services Agency of Japan), những điểm sau được coi là trọng tâm đối với trụ sở kinh doanh của 経営・管理.
Văn phòng cho thuê và văn phòng dùng chung là hình thức dễ phát sinh nghi vấn ở điểm "chiếm một khu vực riêng" này. Vì cách đánh giá khác nhau tùy theo mức độ đảm bảo tính độc lập, nên cần kiểm tra nội dung hợp đồng theo từng trường hợp cụ thể.
Hãy hiểu 6 tháng đến 1 năm là tổng của "thời gian chuẩn bị" và "thời gian nộp hồ sơ, xét duyệt".
Khoảng thời gian 6 tháng đến 1 năm là tổng của thời gian chuẩn bị và thời gian nộp hồ sơ, xét duyệt. Chi tiết đại khái như sau.
Vì việc chuẩn bị cần nhiều thời gian, nên toàn bộ quá trình có thể kéo dài.
Nếu bạn đang chuẩn bị từ bây giờ, cần soạn hồ sơ dựa trên đợt sửa đổi có hiệu lực từ ngày 16 tháng 10 năm 2025 (令和7年10月16日). Đặc biệt là 4 điểm sau đây.
Vốn điều lệ hoặc tổng số vốn góp từ 30 triệu yên (3,000万円) trở lên / tuyển dụng từ 1 người làm nhân viên chính thức toàn thời gian trở lên / năng lực tiếng Nhật / kinh nghiệm kinh doanh, quản lý hoặc bằng cấp tương đương thạc sĩ
Vốn điều lệ hoặc tổng số vốn góp phải từ 30 triệu yên (3,000万円) trở lên.
Về số vốn góp, vốn điều lệ hoặc tổng số vốn góp phải từ 30 triệu yên (3,000万円) trở lên.
Câu hỏi tư vấn này được nhận trước đợt sửa đổi có hiệu lực từ ngày 16 tháng 10 năm 2025 (令和7年10月16日). Số tiền 5 triệu yên (500万円) mà người tư vấn đã chuẩn bị vào thời điểm đó là mức tiêu chuẩn trước sửa đổi, không đủ so với tiêu chuẩn cấp phép hiện hành. Những ai sắp nộp hồ sơ từ bây giờ, xin hãy chuẩn bị theo tiêu chuẩn hiện hành.
Về nguyên tắc là không được công nhận. Vì trụ sở kinh doanh được yêu cầu phải chiếm một khu vực riêng, có người và trang thiết bị, và hoạt động kinh doanh được tiến hành liên tục. Cách đánh giá khác nhau tùy theo nội dung hợp đồng, nên cần kiểm tra theo từng trường hợp cụ thể.
Không thể. Vì cần phải thể hiện cụ thể thực thể của pháp nhân và trụ sở kinh doanh ngay tại thời điểm nộp hồ sơ.
6 tháng đến 1 năm được coi là mốc tham khảo. Đây là tổng của thời gian chuẩn bị — gồm thành lập pháp nhân, đảm bảo trụ sở kinh doanh, chuẩn bị vốn và kế hoạch kinh doanh — cùng thời gian nộp hồ sơ và xét duyệt.
4 điểm chính là: vốn điều lệ hoặc tổng số vốn góp từ 30 triệu yên (3,000万円) trở lên, tuyển dụng từ 1 người làm nhân viên chính thức toàn thời gian trở lên, năng lực tiếng Nhật, và kinh nghiệm kinh doanh, quản lý hoặc bằng cấp tương đương thạc sĩ.
Hãy cho chúng tôi biết hoàn cảnh của bạn. Chúng tôi trả lời trực tiếp.
Tư vấn miễn phíBài viết này cung cấp thông tin chung. Quy định về nhập cảnh và cư trú có thể thay đổi, và kết quả còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng người. Vui lòng xem trang web của 出入国在留管理庁 hoặc hỏi ý kiến chuyên gia có chuyên môn.
Trang này là bản dịch của Đọc bản gốc tiếng Nhật(日本語版を読む). Khi hai bản khác nhau, bản tiếng Nhật là bản chuẩn.